22 Thành Phần Độc Hại Thường Gặp Trên Mỹ Phẩm

22 Thành Phần Độc Hại Thường Gặp Trên Mỹ Phẩm

22 Thành Phần Độc Hại Thường Gặp Trên Mỹ Phẩm

Ngày nay các mặt hàng mỹ phẩm được bán tràn lan với đa dạng mẫu mã, chủng loại, công dụng và xuất xứ. Nhưng sản phẩm nào phù hợp, sản phẩm nào cần thiết, sản phẩm an toàn. Việc chọn mua những sản phẩm nổi tiếng là một giải pháp tối ưu việc an toàn khi sử dụng. Song song với sự chọn mua sản phẩm nổi tiếng thì chúng ta cũng nên hiểu biết về các thành phần có trong mỹ phẩm của mình. Để tránh có những sự lựa chọn nhầm lẫn và đặt lòng tin sai sản phẩm. Sau đây là một số hóa chất ảnh hưởng xấu đến da thường có mặt trên các dòng mỹ phẩm hiện nay.

1. Sodium Lauryl Sulfate (SLS) và Sodium Laureth Sulfate (SLES):

Sodium lauryl sulfate (SLS) là một “mối nguy hiểm vừa phải” độc tính tăng dần theo nồng độ (1% trở lên) và thời gian tiếp xúc; liên quan đến ung thư, độc thần kinh, kích ứng da và rối loạn nội tiết. Với chức năng tẩy rửa và tạo bọt nên chúng được sử dụng nhiều trong sữa tắm, kem đánh răng, kem cạo râu, dầu gội đầu, nước súc miệng …
Một nghiên cứu của Đại học dược Georgia (University of Georgia Medical College) cho thấy SLS ngấm vào mắt, não, tim, gan và bị lưu lại rất lâu trong các mô. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng khi ngấm vào mắt trẻ nhỏ, nó sẽ phát triển trong các mô, tác nhân gây ra bệnh đục thuỷ tinh thể trong giai đoạn phát triển của trẻ. Sodium Lauryl Sulfate được khuyến cáo sử dụng thận trọng vì chất này tẩy sạch đi lớp dầu bảo vệ da và nguyên nhân gây ra dị ứng và nhiễm độc da khi bị tẩy quá mạnh (nồng độ cao).
Các nước trên thế giới chưa chính thức cấm sử dụng SLS nhưng nó vẫn được xếp vào thành phần nguy hiểm trong mỹ phẩm vì nó có thể kết hợp với những chất khác để trở thành nitrosamines, một chất gây ung thư. Thông thường SLS có chứa 1,4 – dioxane là chất gây ung thư, nếu không được loại bỏ hoàn toàn thì thời gian 1,4 – dioxane tích tụ theo thời gian qua việc sử dụng mỹ phẩm và gây ra ung thư.
[Theo hiệp hội Fragrance (CTFA), hiệp hội Ung thư Mỹ và luật bảo vệ môi trường Canada ]

2. Triethanolamine (TEA), Diethanolamine (DEA) và Monoethanolamine (MEA):

Các chất này được tìm thấy trong một số loại dầu gội, dầu xả, lotion, gel cạo râu, kem dưỡng da, sữa dưỡng thể… chúng có tác dụng điều chỉnh độ pH nhưng lại gây hại cho mắt, khiến da và tóc mất dần độ ẩm. chất này rất dễ thấm qua da, tích tụ trong nội tạng, trong não. Nếu sử dụng thường xuyên sẽ làm tăng khả năng ung thư gan và thận, ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương.

3. Mineral oil

Mineral oil – hay còn được biết đến là dầu khoáng, một loại dầu trong không màu không mùi được điều chế từ dầu mỏ, có công dụng giảm mất nước trên da, làm mềm và dưỡng ẩm cho da, được dùng nhiều để sản xuất lotion, kem dưỡng, thuốc mỡ và mỹ phẩm. Theo nhiều nghiên cứu thì Mineral oil không gây kích ứng da nhiều, nếu dùng đúng liều lượng nó còn giúp làm lành vết thương nhanh chóng.

Tuy chưa có bằng chứng cụ thể chứng minh dầu khoáng có thể gây ung thư nhưng sự lạm dụng Mineral oil quá nhiều có thể khiến da bị hầm bí, đổ nhiều dầu, bít tắc lỗ chân lông gây mụn, nhanh lão hóa. Nhưng trên hết nếu bạn biết cách sử dụng và đảm bảo đáp ứng các yêu cầu khi sử dụng hợp chất này thì chúng vẫn tuyệt đối an toàn.

Ký hiệu thành phần: Mineral oil, Paraffinum Liquidum, Paraffin Oil, Cera Microcristallina.

4. Para hydroxybenzoic acids (parabens)

Para hydroxybenzoic acids (parabens) là chất bảo quản, được dùng để chống mốc nhưng chỉ công dụng tạm thời làm ức chế các vi khuẩn có trong mỹ phẩm nên dễ dàng đưa vi khuẩn đến cho người dùng. Parabens thường xuất hiện trong các loại lăn nách, kem triệt lông, kem dưỡng da, xịt khử mùi, kem dưỡng thể, sữa rửa mặt, dầu gội đầu, gel cạo râu. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh parabens là chất gây mất cân bằng nội tiết tố, về lâu dài sẽ làm thay đổi tính nết người sử dụng và còn có thể gây ung thư.

5. Phthalates

Phthalates có trong dầu gội, phấn rôm, dầu thơm dùng cho trẻ em. Các kết quả nghiên cứu khoa học tại Mỹ cho thấy sự phơi nhiễm chất phthalates sơ sinh đang lan rộng, và sự phơi nhiễm các sản phẩm chăm sóc cá nhân trên da đang tăng cao. Điều này thật đáng ngại, vì phơi nhiễm chất phthalate ở giai đoạn đầu đời có mối liên quan trực tiếp đến sự tập trung hormone bị thay đổi cũng như những chứng dị ứng, chảy nước mũi và bệnh chàm (eczema) tăng cao.Trẻ sơ sinh có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn trẻ lớn hơn khác hoặc người lớn vì hệ sinh sản, hệ nội tiết và hệ miễn dịch của chúng vẫn còn đang phát triển.

6. Formaldehyde

Formaldehyde được tìm thấy trong sơn móng tay, dầu gội, sữa tắm. Đây là chất bảo quản mà theo viện an toàn sức khỏe của Mỹ thì nó có thể gây kích ứng da rất nặng và thậm chí là ung thư.

7. Aceton

Aceton không chỉ có trong nước tẩy rửa móng mà còn là thành phần của các sản phẩm tẩy tế bào chết, các phương pháp điều trị mụn trứng cá, chất tẩy rửa và dưỡng ẩm. Theo tạp chí Sophyto, aceton có thể gây tổn hại cho não, ung thư và các độc tính khác. Đối với da, aceton làm khô và kích ứng làn da.

8. Quaternium-15

Chất bảo quản này có trong sản phẩm bọt tắm nói chung và sữa tắm cho trẻ. Vấn đề ở chỗ trong những điều kiện nhất định chất này có thể tạo ra formaldehyde, một chất gây ung thư ở người. Bạn cũng có thể bị viêm da nếu da nhạy cảm.

9. Chất thơm và hương liệu (Fragrance – Parfum)

Hầu hết sữa tắm đều có những mùi hương riêng và khiến cho bạn thích thú. Nhưng những chất giúp mỹ phẩm có mùi hương dễ chịu không vô hại như bạn tưởng. Thành phần hương liệu được coi là bí mật kinh doanh nên đa số các hãng sản xuất đều không muốn tiết lộ. Đây là hợp chất không thể cướp đi mạng sống bạn trong tích tắc nhưng có thể làm khô da, tăng tốc độ lão hóa, dị ứng hoặc rối loại nội tiết tố trong điều kiện dùng nhiều và thường xuyên.

10. Hạt vi nhựa

Hạt vi nhựa thường được nhận dạng trong bảng thành phần bằng những cụm từ như: Contains microbeads, micro abrasives, Polypropylene, Polyethylene. Đây là loại sản phẩm được hình thành từ sự phân hủy của nhựa, về cơ bản nó được làm từ Polyethylene hoặc từ phản ứng nhựa hóa dầu Polypropylene và Polystyrene, nó không mang đến công dụng làm sạch kể cả trên da hay răng. Xét về thực chất nó được xem là “tử thần” trong âm thầm, với khả năng làm trầy xước, nghẽn lỗ chân lông, hư men răng, suy nhược cơ thể, rối loạn hệ hô hấp, tiêu hóa và hình thành ung thư.
Bạn có thể dễ dàng tìm thấy các hạt vi nhựa này trong các loại kem đánh răng, tẩy tế bào chết, sữa tắm dạng hạt … với các hạt nhỏ li ti tầm 1 – 5mm, tỉ lệ nhiều ít này phụ thuộc tính chất sản phẩm, dù rất đẹp mắt và được giới thiệu với công dụng như mơ nhưng nguy hiểm của nó thì cực kỳ đáng sợ.

11. Silicone

Thường không xuất hiện dưới cái tên gốc nhưng đôi khi bạn sẽ tìm thấy trong sản phẩm của mình một vài thành phần như Dimethicone Cyclomethicone hay Cyclotetrasiloxane và đây chính là những tên gọi khác của Silicone – hóa chất có công dụng làm đều màu, che phủ lỗ chân lông,khuyết điểm khiến da trông mịn và mượt mà hơn. Đây cũng là lý do nó được sử dụng nhiều trong công nghệ sản xuất kem lót, kem nền, phấn nước, kem che khuyết điểm.

Nếu dùng nhiều Silicone có thể khiến lỗ chân lông bị ứ tắc, tăng bã nhờn, kích ứng và sinh mụn. Nếu vẫn duy trì trong nồng độ mà Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép thì chất này hoàn toàn không gây ung thư da. Do đó, theo các chuyên gia bạn nên chọn những loại mỹ phẩm có bảng thành phần chứa các nhánh silicone như Dimethicone Cyclomethicone hay Cyclotetrasiloxane ở gần cuối bảng thành phần (thông thường thành phần được sắp xếp thứ tự theo nồng độ trong sản phẩm).

12. Hydroquinone

Hydroquinone – được xem là hoạt chất làm trắng da dạng “tẩy nhanh” đã bị cấm vĩnh viễn tại Anh với các cáo buộc là có thể làm hại da, phá hủy khả năng sinh sản và liên quan trực tiếp đến ung thư, cũng như có nguy cơ gây hại đến gan và thận. Tại Châu Âu hợp chất này chỉ còn được sử dụng để sản xuất sơn móng tay với nồng độ tối đa dưới 0,02% và không được xuất hiện trong các sản phẩm dưỡng da và tóc.
Mặc dù không được công bố trong thành phần sản phẩm nhưng cẩn thận các sản phẩm có tác dụng trắng nhanh, trắng rõ rệt trong vài ngày nhé.

13. Propylene Glycol

Trong ngành mỹ phẩm Propylene Glycol (PG hay PEGs) được xem là chất giữ, làm ẩm và chống đông cho các sản phẩm dạng lỏng như kem nền, kem lót, dưỡng thể và kem đánh răng … Còn trong ngành công nghiệp, PEGs được xem là thành phần chính để sản xuất dầu phanh và các chất lỏng thủy lực. Theo Material Safety Data Sheet (MSDS) thì việc tiếp xúc trực tiếp giữa PG với da có thể khiến những khu vực này bị kích thích mạnh, nhanh lão hóa, mau bong tróc. Nếu thấm vào cơ thể PG  còn có thể gây nên nhiều bất thường gan và tổn thương thận, xa hơn là đau thắt cơ tim.
Tuy nhiên, đây chỉ là tác hại tất yếu nếu da bạn tiếp xúc với 100% Propylene Glycol, bởi trong mỹ phẩm các nhà sản xuất chỉ sử dụng PG với một liều lượng cực nhỏ nên chỉ khi lạm dụng ta mới thực sự gặp rắc rối. Ký hiệu trên bản thành phần: Propylene Glycol, Propylene Glycols, 1,2-Propanediol.

14. Toluene

Toluene hay còn gọi là metylbenzen hoặc phenylmetan, đây là một chất lỏng trong suốt, không hòa tan nước. Toluene thực chất là hydrocarbon thơm được dùng làm dung môi rộng rãi trong công nghiệp và dễ dàng tìm thấy trong các sản phẩm làm đẹp như sơn móng hoặc thuốc nhuộm. Về độc tính, nếu tiếp xúc với Toluene lâu dài bạn sẽ có nguy cơ mắc ung thư cao hơn người khác, thêm vào đó nó còn có thể ảnh hưởng đến hệ hô hấp, gây buồn nôn, nhức đầu và ảnh hưởng đến thai phụ. Ký hiệu trên bảng thành phần là benzen, toluen, phenylmethane, methylbenzene.

15. Các hợp chất chiết xuất từ nhau thai

Nếu như các sản phẩm từ nhau thai động vật như cừu, hươu, heo rất tốt cho sức khỏe và làn da thì các hợp chất chiết xuất từ nhau thai người (tử hà sa) lại hoàn toàn trái ngược. Thực tế những hợp chất có nguồn gốc từ con người đã được Bộ Y Tế đưa vào lệnh cấm sử dụng trong mỹ phẩm vào hồi tháng 3 – 2015, bởi các độc tính khó lường trước như: sốc phản vệ gây chết người do tiêm trực tiếp vào da, nhiễm siêu vi, tạo ổ ký sinh trùng dưới da và nội tạng, tổn hại hệ thần kinh, nhiễm HIV, viêm gan siêu vi B nếu gặp phải nhau thai không gõ nguồn gốc.

16. Paraphenylenediamine

Paraphenylenediamine – hay còn được biết đến với cái tên vắn tắt là PPD, đây là thành phần thường có mặt trong thuốc nhuộm tóc hoặc một chất thay thế henna. Theo các nghiên cứu đã công bố vào năm 1992 thì việc tiếp xúc trực tiếp thường xuyên giữa da với các sản phẩm chứa PPD vượt mức định lượng có thể gây ra vô số tác hại như: ung thư hạch non (Hodgkin’s Lymphoma), u xơ đa bào, bạch cầu cấp tính, ung thư bàng quang, hen phế quản, viêm da nhạy cảm, kích ứng họng và nhiều triệu chứng phơi nhiễm liên quan khác.

17. Triclosan

Triclosan được xem là chất kháng khuẩn được dùng nhiều trong nền công nghệ sản xuất xà phòng, sữa tắm, kem đánh răng, lăn khử mùi và nhiều mặt hàng gia dụng khác. Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences thì Triclosan có tác dụng tiêu cực đến một số nội tạng và hoạt động bên trong cơ thể người, cụ thể như sau: gây xơ gan, thúc đẩy phát triển khối u phát triển thần tốc, phá hủy hoocmon, tổn thương tinh trùng, kháng kháng sinh, viêm mũi dị ứng, rối loạn nội tiết tố.

18. Butylated Hydroxyanisol (BHA) và Butylated Hydroxytoluene (BHT)

BHA (Butylated Hydroxyanisole) và BHT (Butylated Hydroxytoluene) là hai chất bảo quản được dùng nhiều trong son môi và kem dưỡng ẩm dưới bản chất là những chất chống oxi hóa tổng hợp. Về lâu dài việc lạm dụng hai hợp chất này chỉ có thể ảnh hưởng đến da gây ra một số dị ứng, viêm nhiễm và rối loạn nội tiết tố. Hiếm có trường hợp nặng đến tử vong, nếu có thì chúng chỉ dừng lại ở việc tạo khối u ung thư mà thôi!

19. Hợp chất kim loại nặng

Hợp chất kim loại nặng ở đây chính là chì, thủy ngân, kẽm, asen, niken … đây là những chất được sử dụng với liều lượng cực ít nhằm đảm nhận vai trò khử mùi, sáng da, tẩy trắng và tiết chế mồ hôi. Tuy nhiên, không phải cái gì sử dụng nhiều cũng tốt và hợp chất kim loại nặng chính là một ví dụ điển hình. Sử dụng nhiều và lạm dụng chính là cách để cơ thể hấp thu và tích tụ nhiều kim loại trong người “giúp” cơ thể hình thành và phát sinh các triệu chứng: rối loạn cảm xúc, suy giảm thần kinh chức năng, hệ miễn dịch, nội tiết tố, nhanh lão hóa và kích ứng da nhạy cảm.

20. Benzoyl Peroxide

Đây là một loại hóa chất có nhiều trong các loại kem trị mụn trứng cá, giúp cải thiện tình trạng mụn hiệu quả nhờ khả năng kháng khuẩn và làm bong tróc chất sừng.
Mặc dù có ích, nhưng Benzoyl Peroxide luôn tiềm ẩn nguy hại khôn lường, có thể khiến da bị kích ứng, viêm da tiếp xúc, khô da. Nếu dùng sản phẩm chứa hàm lượng Benzoyl Peroxide cao trong thời gian dài sẽ tạo điều kiện cho các chất gây ung thư phát triển và có thể gây đột biến gen và tổn thương AND

21. Methylisothiazolinone

Methylisothiazolinone (MIT) được sử dụng như một chất bảo quản hiệu quả rộng rãi trong các sản phẩm chăm sóc da, sản phẩm chăm sóc cá nhân (kem đánh răng, dầu gội, xà phòng…). MIT đã được chứng minh khi bôi ngoài da sẽ gây viêm da dị ứng tiếp xúc, là một loại dị ứng đa cấp tính nghiêm trọng.

22. Màu tổng hợp

Màu tổng hợp có nguồn gốc từ hắc ín (petroleum) có thể gây kích ứng và dị ứng ở da, chất màu này thường được thử nghiệm trên động vật vì các khả năng gây ung thư. Không nên sử dụng thường xuyên bất cứ loại mỹ phẩm chứa màu tổng hợp nào.
Và còn rất nhiều hóa chất khác có khả năng gây hại cho da và sức khỏe của bạn. Vậy Phải làm sao để lựa chọn cho mình sản phẩm để vừa làm sạch cơ thể, vừa có tác dụng tốt cho da mà không hề chứa hóa chất nguy hại?
Trước hết hãy bạn nên đọc kỹ thành phần của các loại mỹ phẩm  khi bạn định mua chúng. Và hãy tự bảo vệ mình bằng việc tránh xa các sản phẩm hóa mỹ phẩm, thay vào đó là các nguồn tự nhiên, vừa đáp ứng được mục đích sử dụng vừa đảm bảo an toàn cho làn da và sức khỏe của bạn.

—Nguồn sưu tầm—



Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *